Diễn đàn lý luận

Khi văn chương bắt mạch nỗi đau

Nguyễn Thị Tịnh Thy
Lý luận phê bình 10:24 | 24/01/2026
Baovannghe.vn - Bắt mạch nỗi đau không phải là một thao tác lâm sàng lạnh lùng, mà là sự lắng nghe những rung động của tâm hồn, nhịp đập của cơ thể bằng nghệ thuật ngôn từ...
aa

(Đọc chuyên luận Văn học và y học - Bắt mạch nỗi đau của TS. Nguyễn Thùy Trang)

1. Trong cái nhìn rạch ròi mang tư duy nhị nguyên, người ta thường phân định khoa học tự nhiên biệt lập với khoa học xã hội, khoa học thực chứng biệt lập với khoa học phi thực chứng. Y học và văn học đều lấy con người làm trung tâm trong thực hành nghề nghiệp, cùng có nỗ lực chung là thấu hiểu nỗi đau của con người. Tuy nhiên, y học thuộc khoa học tự nhiên, văn học thuộc khoa học xã hội - nhân văn; y học tiếp cận con người ở góc độ thực chứng; văn học thì ngược lại. Xét về phương diện sáng tác, văn học là thế giới hình tượng, là sản phẩm của trí tưởng tượng, con người trong văn học là sinh thể trên giấy; xét về phương diện nghiên cứu, văn học thuộc khoa học phi thực chứng, mặc dù mọi lập luận, nhận định của nghiên cứu văn học đều phải có dẫn chứng thuyết phục, nhưng dẫn chứng ấy vẫn là hình tượng chứ không phải hình tướng hay hình thể với vật chứng sinh học và dữ liệu lâm sàng cụ thể như y học. Mặc dù được đề xuất từ đầu thế kỷ XX, nhưng phải đến đầu thế kỷ XXI, sự kết hợp giữa văn học và y học mới thực sự trở thành một trào lưu toàn cầu nhằm bồi dưỡng lòng trắc ẩn và kỹ năng giao tiếp cho bác sĩ, khi GS. Rita Charon xuất bản các công trình nghiên cứu về Y học tự sự (Narrative Medicine) tại Đại học Columbia (Mỹ). Bà chính thức hóa việc giảng dạy cách đọc văn chương cho sinh viên y khoa như một công cụ lâm sàng, khuyến khích bác sĩ lắng nghe câu chuyện của bệnh nhân như một tác phẩm văn học để hiểu bối cảnh bệnh lý sâu sắc hơn; thấu cảm với bệnh nhân, nhìn bệnh nhân không phải bằng các con số và chỉ dấu y khoa, mà còn nhìn thấy một cuộc đời, một gia đình và những nỗi sợ thầm kín của họ. Y học tự sự sẽ khiến các bác sĩ tương lai có năng lực tường thuật, có khả năng nhận biết, tiếp thu, chuyển hóa, diễn giải và xúc động bởi những câu chuyện về bệnh tật.

Khi văn chương bắt mạch nỗi đau
Tranh của họa sĩ Wassily Kandinsky - Ảnh: Phillips Auctioneers

Từ mốc thời gian và học thuật này, hàng loạt trường y danh tiếng bắt đầu thay đổi chương trình đào tạo, biến văn học từ môn tự chọn thành một môn học quan trọng để bồi dưỡng lòng trắc ẩn và kỹ năng giao tiếp.

Ở chiều ngược lại, nghiên cứu văn học qua lăng kính y học (nghĩa là giới phê bình văn học sử dụng tri thức y khoa để siêu âm và mổ xẻ tác phẩm) có một lịch sử hình thành sớm hơn. Đầu thế kỷ XX, trong các công trình về phân tâm học, Sigmund Freud đã mượn kiến thức của y học tâm thần để “Đọc Con Người”. Hiện nay, văn học qua lăng kính y học đã trở thành một xu hướng nghiên cứu chính tại các trường đại học danh tiếng. Dĩ nhiên, nghiên cứu y học và văn học ở các khu vực và từng quốc gia sẽ có những khuynh hướng riêng mang đặc điểm lịch sử, chính trị, văn hóa và đặc biệt là ký ức tập thể. Nếu Hàn Quốc, Việt Nam tập trung vào lý thuyết chấn thương để chữa lành vết sẹo lịch sử, thì Nhật Bản và Trung Quốc lại hướng tới các vấn đề già hóa dân số và khủng hoảng niềm tin xã hội. Nếu phương Tây đang nghiên cứu để “vượt qua giới hạn con người” thì châu Á đang nghiên cứu để “tìm lại bản chất con người” sau những biến động và áp lực của hiện đại hóa.

Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu liên ngành văn học và y học chủ yếu tập trung vào lý thuyết phân tâm học và lý thuyết chấn thương. Ngoài ra, đã có một số công trình nghiên cứu về dịch bệnh, bệnh tật dưới góc độ nữ quyền và y học nhưng chưa có công trình nào đọc tất cả các loại bệnh án của con người đương đại trong cái nhìn đa khoa, đa chiều về đề tài sáng tác lẫn đối tượng khảo sát. Vì vậy, chuyên luận Văn học và y học - Bắt mạch nỗi đau của TS. Nguyễn Thùy Trang ra đời đã góp phần làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa văn học và y học, mở ra công năng của tự sự học hậu kinh điển - bên cạnh tự sự học lịch sử, tự sự học nữ quyền, tự sự học sinh thái... còn có tự sự học y học. Điều đó cho thấy đặc điểm liên/xuyên ngành của văn học nói chung và văn xuôi tự sự nói riêng.

2. Chọn chủ đề bệnh tật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI, chuyên luận Văn học và y học - Bắt mạch nỗi đau có cấu trúc mạch lạc và sáng rõ với năm chương nội dung. Trong hai chương đầu, tác giả đã tổng hợp hệ thống lý thuyết về mối quan hệ liên ngành và khái lược các công trình bệnh tật tiêu biểu trên thế giới, giới thiệu tổng quan về chủ đề bệnh tật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI; tạo tiền đề để đi sâu vào thực hiện nội dung chính ở các chương sau.

Khi văn chương bắt mạch nỗi đau
Chuyên luận "Văn học và y học - Bắt mạch nỗi đau"

Chương 3 trình bày về bệnh thể xác: ung thư, bệnh lạ và dịch bệnh. Chương 4 tập trung vào bệnh tinh thần: các kiểu chấn thương tâm lý ­- căn bệnh tinh thần của xã hội hiện đại, bao gồm PTSD (rối loạn căng thẳng sau sang chấn) chiến tranh và hậu chiến, tự kỷ, trầm cảm, tâm thần phân liệt, sang chấn sau đại dịch và rối loạn đa nhân cách. Không chỉ vậy, chuyên luận còn truy tìm những căn nguyên sâu xa dẫn đến nỗi đau thể xác và tinh thần của con người. Trên cơ sở vận dụng các lý thuyết liên ngành như tâm lý học, phân tâm học, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học, y học, phê bình sinh thái và kiến thức về công nghệ thông tin, kỹ thuật số, chuyên luận mở ra sự gắn kết giữa vấn đề bệnh tật với thực trạng xã hội. Như vậy, Nguyễn Thùy Trang đã kết hợp tính liên ngành một cách rộng mở, khéo léo từ đặc điểm có thể hấp thu nhiều lý thuyết, nhiều lĩnh vực khoa học của thể loại tiểu thuyết.

Chương 5 lý giải những biện chứng thể xác và tinh thần, minh giải những ẩn dụ về sự tồn tại của con người. Từ các triết thuyết, tác giả có cái nhìn mới lạ khi cho rằng “đau trên thân thể như một cách xác định bản diện cá nhân”; sống là “hành trình tìm kiếm chiếc bóng, rượt đuổi bản ngã”; chết là “sự chối bỏ ý nghĩa của thể xác” trong sự tưởng tượng về thế giới phản địa đàng. Đối chiếu các phương pháp chữa trị trong y học và văn học để thấy điểm giao thoa giữa hai lĩnh vực tưởng chừng rất khác xa nhau này, chuyên luận đưa ra những cảnh báo và dự cảm về quá trình bất ổn trong tâm - sinh - lý của con người, đề xuất những giải pháp cơ bản để đối mặt với bệnh tật từ góc độ văn học nghệ thuật và nhân sinh xã hội.

Cũng như phê bình nữ quyền luận, phê bình sinh thái hay phê bình luân lý học văn học, phê bình văn học từ nhãn quan y học thuộc loại phê bình chủ đề. Nếu người viết không am tường về thi pháp học, sẽ dễ dàng sa vào phân tích, bình luận nội dung và bỏ qua nghệ thuật; dẫn đến việc người phê bình trở thành cái “loa” phát ngôn cho những gì nhà văn muốn chuyển tải. Nguyễn Thùy Trang đã vượt qua được giới hạn đó bằng những trang viết phân tích nghệ thuật tiểu thuyết như những chỉ dấu nghệ thuật dẫn vào chấn thương tâm lý nhân vật. Nhận định về không - thời gian nghệ thuật với chức năng chuyên chở cảm xúc hỗn độn của bệnh tâm lý và ngôn ngữ nghệ thuật biểu đạt các sắc thái chấn thương đều được chứng minh rõ ràng, phân tích thấu đáo, kiến giải sâu sắc.

Chọn đề tài chuyên luận là “Bắt mạch nỗi đau”, tác giả Nguyễn Thùy Trang đã xem bệnh nhân như một văn bản dang dở của những nỗi đau, và đằng sau mỗi văn bản ấy là môi trường sinh thái, môi trường xã hội với chiến tranh, hậu chiến, gia đình, tình yêu, tình bạn... Đối thoại với tư duy nhị nguyên khi nghiên cứu văn học với y học, Nguyễn Thùy Trang nhấn mạnh đến ý nghĩa của nỗi đau thân - tâm. Quan niệm truyền thống luôn đề cao giá trị tinh thần và xác thịt (theo một ý nghĩa nào đó) thường bị hạ bệ, được cho là kém thanh cao. Tuy nhiên, từ nỗi đau bệnh tật, tác giả khẳng định sự thiêng liêng và ý nghĩa lớn lao của xác thịt, đặc biệt là trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang lấn lướt trí tuệ thiên tạo. Từ đó, chuyên luận cho thấy văn học bắt mạch nỗi đau theo cách thức đặc thù: không kê đơn bốc thuốc, nhưng gieo vào ý thức con người khả năng đối diện, thấu hiểu và chuyển hóa nó.

3. Sử dụng phương pháp phê bình văn học qua lăng kính y học một cách tương đối nhuần nhuyễn, chuyên luận Văn học và y học - Bắt mạch nỗi đau tạo nên được một “cái bắt tay” của hai lĩnh vực đối lập, cho thấy văn chương chính là nhiệt kế đo sức khỏe tâm thần của một dân tộc, là hồ sơ bệnh án của cả một thời đại. Bắt mạch nỗi đau không phải là một thao tác lâm sàng lạnh lùng, mà là sự lắng nghe những rung động của tâm hồn, nhịp đập của cơ thể bằng nghệ thuật ngôn từ. Văn học giúp con người gọi tên nỗi đau, và khi nỗi đau được gọi tên, quá trình hồi phục - chữa lành mới có thể bắt đầu.

Tuy nhiên, do khoanh vùng chủ đề và thời gian sáng tác, đối tượng khảo sát của chuyên luận là là 45 tiểu thuyết, thể hiện sự thừa “hồ đa” mà thiếu “hồ tinh”. Một số tác phẩm chưa thực sự xuất sắc, chưa được thử lửa thời gian; vì vậy, tác giả chuyên luận hoàn thành mục tiêu nghiên cứu một cách an toàn, “ngăn nắp” chứ chưa có những bứt phá và đối thoại cần thiết. Phần lịch sử nghiên cứu thừa những bài báo ít liên quan, nhưng thiếu một vài công trình liên quan. Đó là những điểm làm giảm mức độ sắc sảo của cuốn sách.

Khi văn chương bắt mạch nỗi đau, bằng phương thức đặc thù của mình, văn chương phát đi những tín hiệu cảnh báo, cảnh tỉnh con người trước sự đe dọa của bệnh tật. Khi nhà nghiên cứu nhìn nỗi đau vừa bằng nhãn quan văn học vừa bằng nhãn quan y học, họ sẽ thấu cảm hơn với nỗi đau thân tâm, cho ta thấy rõ hơn chức năng của văn học trong mối tương quan với y học.

Như kỳ phùng địch thủ của nhau, y học càng tiến bộ thì bệnh tật càng nhiều và càng nguy hiểm. Ung thư, virus, bệnh lạ, hội chứng PTSD và cơn bão Covid-19 với cái chết, sự tù túng, chia ly, cách ly, ngột ngạt, sợ hãi, ám ảnh... trong các văn bản văn học cho thấy rằng việc nghiên cứu văn học qua lăng kính y học ngoài ý nghĩa khoa học và thực tiễn còn có tính thời sự; thể hiện sự nhanh nhạy của người nghiên cứu trước thực tiễn sống động của đời sống và sôi động của văn chương. Khi văn chương bắt mạch nỗi đau, bằng phương thức đặc thù của mình, văn chương phát đi những tín hiệu cảnh báo, cảnh tỉnh con người trước sự đe dọa của bệnh tật. Khi nhà nghiên cứu nhìn nỗi đau vừa bằng nhãn quan văn học vừa bằng nhãn quan y học, họ sẽ thấu cảm hơn với nỗi đau thân tâm, cho ta thấy rõ hơn chức năng của văn học trong mối tương quan với y học: y học giúp nhìn thấy con người, văn học giúp nhìn thấu con người; y học giúp kéo dài sự sống, văn học giúp ta hiểu vì sao phải sống; bác sĩ cần văn học để hiểu nỗi đau của con người, nhà văn cần y học để mô tả chính xác thân phận con người. Và, khi văn học và y học song hành trong nhận thức lẫn thực tiễn; “một bên nâng đỡ tâm hồn, một bên cứu chữa cơ thể, chúng ta mới tiến gần hơn đến một hình mẫu “con người toàn vẹn” - khỏe mạnh cả thân và tâm trong môi trường bền vững”. Với kết luận này, Nguyễn Thùy Trang đã bắt mạch được ước vọng của con người về sự giao cảm giữa ta với tha nhân, ta với chính ta, và ta với vạn vật trong thế giới này.

Đại hội XIV của Đảng: Kết tinh ý chí, mở lối phát triển

Đại hội XIV của Đảng: Kết tinh ý chí, mở lối phát triển

Baovannghe.vn - Sau những ngày làm việc tận tâm, trí tuệ và trách nhiệm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp
Năm tháng giăng giăng đầy mặt nạ - Thơ Lê Nguyệt Minh

Năm tháng giăng giăng đầy mặt nạ - Thơ Lê Nguyệt Minh

Baovannghe.vn- Loanh quanh khép vào ngày lặng ngắt/ Ngọc đã vướng vào thơm
Hai anh em người làng Điểu Khê: Những dòng chảy văn chương

Hai anh em người làng Điểu Khê: Những dòng chảy văn chương

Baovannghe.vn - Hai anh em người làng Điểu Khê, dù một người nằm lại nơi đất mẹ, một người trên đỉnh Ba Vì mây trắng bay, nhưng những trang văn, ý thơ của họ vẫn mãi là một phần tâm hồn của vùng quê sông La hiền hòa.
Đọc truyện: Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai

Đọc truyện: Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai

Baovannnghe.vn - Giọng đọc và hậu kỳ: Hà Phương; Đồ họa: Thùy Dương; Biên tập: Phạm Thị Hà
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp báo quốc tế công bố kết quả Đại hội XIV của Đảng

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp báo quốc tế công bố kết quả Đại hội XIV của Đảng

Baovannghe.vn - Chiều 23/1, tại Trung tâm Báo chí (Trung tâm Hội nghị Quốc gia), Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi họp báo Quốc tế công bố kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.